QUY ĐỊNH VỀ ỦY QUYỀN CỦA CÁ NHÂN CHO TỔ CHỨC TRẢ THU NHẬP VỀ VIỆC QUYẾT TOÁN THUẾ TẠI VIỆT NAM - HR DEPT

QUY ĐỊNH VỀ ỦY QUYỀN CỦA CÁ NHÂN CHO TỔ CHỨC TRẢ THU NHẬP VỀ VIỆC QUYẾT TOÁN THUẾ TẠI VIỆT NAM

  1. Cá nhân được ủy quyền quyết toán thuế cho tổ chức trả thu nhập:

– Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động ít nhất 03 tháng tại tổ chức trả thu nhập và đang làm việc thực tế tại tổ chức đó tại thời điểm ủy quyền quyết toán thuế, kể cả trường hợp chưa làm việc hết 12 tháng trong năm. Trường hợp cá nhân là người lao động chuyển sang tổ chức mới theo quy định tại Điểm d.1 Khoản 6 Điều 8 Nghị định 126/2020/NĐ-CP thì được ủy quyền cho tổ chức mới quyết toán thuế.

– Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động ít nhất 03 tháng tại tổ chức trả thu nhập và đang làm việc thực tế tại tổ chức đó tại thời điểm ủy nhiệm quyết toán thuế, kể cả trường hợp chưa làm việc hết 12 tháng trong năm; có thu nhập vãng lai tại nơi khác bình quân hàng tháng không quá 10 triệu đồng, đã được khấu trừ thuế TNCN 10% mà không yêu cầu quyết toán thuế TNCN đối với khoản thu nhập đó.

 

  1. Cá nhân không được ủy quyền quyết toán thuế cho tổ chức trả thu nhập:

– Cá nhân đáp ứng đủ điều kiện ủy quyền quy định tại điểm I nêu trên nhưng đã được tổ chức trả thu nhập cấp Giấy chứng nhận khấu trừ thuế TNCN thì không được ủy quyền quyết toán thuế cho tổ chức đó (trừ trường hợp Giấy chứng nhận khấu trừ thuế TNCN cấp cho cá nhân bị thu hồi và hủy bỏ bởi tổ chức đó)

– Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động ít nhất 03 tháng tại tổ chức trả thu nhập nhưng tại thời điểm tổ chức quyết toán thuế không làm việc tại tổ chức trả thu nhập.

– Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động ít nhất 03 tháng tại tổ chức trả thu nhập mà có thu nhập vãng lai chưa lãnh hoặc khấu trừ thuế còn thiếu (kể cả trường hợp thu nhập chưa đến mức khấu trừ và đã đến mức khấu trừ nhưng không được trừ)

– Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động ít nhất 03 tháng tại nhiều tổ chức trả thu nhập

– Cá nhân chỉ có thu nhập vãng lai đã khấu trừ thuế theo thuế suất 10% (kể cả trường hợp chỉ có thu nhập vãng lai tại một nơi).

– Cá nhân chưa đăng ký mã số thuế.

– Người cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công và được xét giảm thuế do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo thì không được ủy quyền quyết toán thuế. Họ phải tự quyết toán thuế với hồ sơ giảm thuế theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều 46 Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính.

 

*** Lưu ý:

Về nguyên tắc, khi cá nhân ký giấy ủy quyền quyết toán thuế thì tổ chức trả thu nhập thực hiện quyết toán thuế thay cho cá nhân đó. Sau khi cá nhân ủy quyền quyết toán thuế và tổ chức trả thu nhập thực hiện quyết toán thuế thay cho cá nhân, nếu sau đó xác định được cá nhân trực tiếp quyết toán thuế với cơ quan thuế thì tổ chức trả thu nhập không điều chỉnh quyết toán thuế TNCN, chỉ cấp Giấy chứng nhận khấu trừ thuế TNCN cho cá nhân theo số quyết toán và ghi ở góc dưới bên trái tờ này với nội dung: “Công ty… quyết toán thuế TNCN thay cho Ông/Bà …. (theo ủy quyền) tại dòng (số thứ tự)… của Phụ lục Bảng kê 05-1/BK-TNCN” để cá nhân trực tiếp quyết toán thuế với cơ quan thuế.